Nhận biết phân tử sinh học
Dùng iodine, Benedict, Biuret và phép thử vết trên giấy để tìm tinh bột, đường khử, protein và lipid, rồi xác định thành phần của hai mẫu chưa biết.
Mô hình định tính: Đúng kết quả định tính của các phép thử; màu sắc và tốc độ đổi màu là minh hoạ.
Đang khởi động thí nghiệm…
Chọn một ống trên giá. Kéo thuốc thử thả vào ống, hoặc chọn ống rồi nhấn nút thuốc thử (dùng được bằng bàn phím).
Chuẩn bị và thao tác
Tối đa 8 ống. Nên luôn có một ống nước cất cho mỗi thuốc thử để làm đối chứng.
Kết luận về mẫu chưa biết
Bảng kết quả
So sánh các lần thử
Mỗi ống đã thêm thuốc thử sẽ hiện ở đây cùng dự đoán, quan sát và kết luận.
- Iodine: xanh tím đậm = có tinh bột; vàng nâu = không.
- Benedict (đun cách thuỷ): xanh lam → lục → vàng → cam → đỏ gạch khi lượng đường khử tăng.
- Biuret: tím = có protein; xanh lam nhạt = không.
- Vết trên giấy: vết trong mờ còn lại khi khô = có lipid.
Hướng dẫn thí nghiệm
Mục tiêu: Thực hành xác định định tính một số phân tử sinh học; biết dùng mẫu đối chứng và kết luận từ kết quả phép thử.
- Thêm ống nước cất và ống hồ tinh bột. Dự đoán, rồi nhỏ dung dịch iodine vào cả hai ống. So sánh màu.
- Thêm ống glucose và ống sucrose, nhỏ Benedict. Quan sát trước khi đun, rồi đun cách thuỷ từng phút một.
- Pha glucose ở nhiều nồng độ khác nhau và so sánh màu Benedict sau 5 phút đun.
- Thử lòng trắng trứng với Biuret và dầu ăn bằng vết trên giấy, mỗi lần kèm một ống nước cất đối chứng.
- Làm đủ bốn phép thử với Mẫu X và Mẫu Y, rồi kết luận mỗi mẫu chứa những nhóm chất nào.
Mỗi thuốc thử phản ứng với một nhóm chất có đặc điểm cấu tạo riêng: iodine với tinh bột, thuốc thử Benedict với đường khử khi đun nóng, thuốc thử Biuret với liên kết peptide của protein; lipid không tan trong nước nên để lại vết trong mờ trên giấy.
Sucrose là đường đôi nhưng không phải đường khử, nên không làm Benedict đổi màu. Muốn phát hiện, phải thuỷ phân sucrose thành glucose và fructose trước.
Màu Benedict thay đổi theo lượng đường khử (lục → vàng → cam → đỏ gạch), nên phép thử còn cho biết nhiều hay ít (bán định lượng).
Ống nước cất cho biết màu của thuốc thử khi không có chất cần tìm. Không có đối chứng thì khó kết luận một thay đổi màu nhỏ.
- Mẫu X cho kết quả dương tính với Benedict và Biuret. Có thể kết luận mẫu không chứa tinh bột không? Cần thêm bằng chứng nào?
- Vì sao một kết quả âm tính không chứng minh mẫu hoàn toàn không có chất đó?
Giới hạn của mô hình
- Kết quả theo bảng quy tắc dựa trên thành phần khai báo của mẫu; hoá học thực tế của từng thuốc thử không được mô phỏng.
- Màu trên màn hình là màu minh hoạ. Ngưỡng màu Benedict (lục ~0,5 %, vàng ~1 %, cam ~1,5 %, đỏ gạch ~2 %) lấy từ nguồn thứ cấp; tốc độ màu xuất hiện khi đun là giá trị minh hoạ.
- Mô hình bỏ qua giới hạn phát hiện của iodine, Biuret và vết trên giấy (mọi lượng > 0 đều dương tính); thực tế lượng quá nhỏ có thể không phát hiện được.
- Tinh bột được coi là âm tính với Benedict; thực tế có thể cho phản ứng rất yếu.
- Mẫu X và Mẫu Y là hỗn hợp tự đặt để luyện suy luận, không mô tả một loại thực phẩm thật.
Đối chiếu với dữ liệu tham chiếu
- Benedict: glucose dương tính sau khi đun cách thuỷ, nước cất âm tính (LOUIS: xanh lam → đỏ gạch, đun 5 phút). Phù hợp.
- Sucrose âm tính với Benedict; tinh bột phản ứng rất yếu hoặc không (Wikipedia, mức D). Mô hình: âm tính cả hai.
- Thang màu Benedict: mô hình chuyển màu ở 0,75 / 1,25 / 1,75 % (giữa các mốc 0,5 / 1 / 1,5 / 2 % của nguồn thứ cấp). Glucose 2 % đun 5 phút cho đỏ gạch; 0,5 % cho lục.
- Iodine – tinh bột, Biuret – protein (albumin), vết trên giấy – lipid: theo quy trình LOUIS. Phù hợp định tính.
- Thời gian phát triển màu khi đun (hằng số 1,2 phút): CHƯA ĐỐI CHIẾU ĐỊNH LƯỢNG.
Nguồn
Chi tiết đối chiếu
Phần: Benedict: xanh lam → đỏ gạch khi có monosaccharide, đun cách thuỷ 5 phút; Lugol với tinh bột; Biuret (NaOH 10 % + CuSO₄ 1 %) với albumin; phép thử vết trên giấy với lipid; ống nước cất làm đối chứng âm
Giáo trình thực hành mở của một mạng thư viện đại học công lập; đã đọc trực tiếp phần quy trình. Màu trong các hình kết quả chưa được đối chiếu (chỉ đọc được chữ).
Truy cập 2026-10-23
Chi tiết đối chiếu
Phần: Màu bán định lượng: lục ~0,5 %, vàng ~1 %, cam ~1,5 %, đỏ ≥ 2 % đường khử; sucrose không khử; tinh bột phản ứng rất yếu hoặc không; cần đun 4–10 phút
Nguồn thứ cấp; chưa đọc tài liệu gốc được trích. Các ngưỡng màu chỉ dùng làm thang minh hoạ.
Truy cập 2026-10-23
Chi tiết đối chiếu
Phần: Mục 1.2, 2.1–2.3, 3.1–3.5, 4.1–4.4 (4.2 tế bào nhân sơ, 4.4 hệ thống nội màng: đọc thêm 2026-10-26 cho mô hình 3D); 5.2, 5.3 (vận chuyển thụ động, chủ động: đọc 2026-10-26 cho mô phỏng vận chuyển qua màng); 6.1, 6.4 (chuyển hoá, ATP); 7.1, 7.4, 7.5 (hô hấp, lên men); 8.1 (quang hợp); 9.1–9.3 (thông tin tế bào); 10.2–10.4 (chu kì tế bào, ung thư); 11.1 (giảm phân); 17.1 (nhân bản vô tính); 21.1–21.2 (virus); 22.5 (vi khuẩn có lợi); 32.3 (nuôi cấy mô thực vật)
Giáo trình đại học mở, có bình duyệt; đã đọc trực tiếp các mục nêu trên. Là tài liệu tổng hợp (thứ cấp) nên xếp mức D. Dùng để kiểm tra kiến thức khoa học, không thay thế sách giáo khoa Việt Nam.
Truy cập 2026-10-23
Sổ thí nghiệm
Ghi giả thuyết, biến, quan sát và kết luận; bấm "Lưu bảng vào sổ" ở bảng so sánh các lần thử để đính kèm số liệu. Sổ lưu trên thiết bị này (không gửi đi đâu); xem mọi ghi chép, xuất hoặc nhập tệp ở trang Sổ thí nghiệm.
Chưa có ghi chép nào cho thí nghiệm này.